2016-02-18 15:53:08

Các hoá chất dùng trong nuôi trồng thuỷ sản ven biển bao gồm các chất khử trùng, các tác nhân kháng khuẩn, các thuốc trị bệnh khác. Các loại vật tư kiến trúc công trình như chất dẻo, các phụ gia, chất màu, chất chống ôxy hoá, chất chống cháy, diệt nấm, tẩy trùng... Tuy các chất này có tính hoà tan thấp nhưng chúng đôi khi vẫn gây độc đối với sự sống ở dưới nước; Các chất xử lý đất và nước như phèn (sunfat nhôm-kali), EDTA (Axit dinatri ethylendiamintetraacetic), thạch cao, vôi, zeolit. Ngoài ra, phải kể đến các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, rong tảo, chất phụ gia thức ăn, thuốc gây tê và các loại hoócmôn.

Các hoá chất hiện đang được dùng trong nuôi trồng thuỷ sản có thể được chia làm ba loại. Loại thứ nhất bao gồm các hoá chất. Loại này gồm có chloramphenicol, thuốc diệt nhuyễn thể organotin, malachit xanh lục và có khả năng là cả một số phốtphát hữu cơ. Loại thứ hai gồm có các hoá chất có thể được sử dụng một cách an toàn nếu tuân theo các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn, nhưng lại có nguy cơ đối với môi trường và sức khoẻ con người nếu sử dụng không đúng cách. Ví dụ dùng liều lượng quá mức, hoặc không trung hoà được, hoặc không pha loãng trước khi thải ra, hoặc thiếu các thiết bị bảo vệ cá nhân cần thiết. Loại thứ ba gồm có các loại có thể an toàn về mặt môi trường trong hầu hết các trường hợp nhưng lại có hại đối với một số địa điểm đặc biệt vì các thuộc tính đơn nhất của các địa điểm này. Vì vậy, lựa chọn đúng các địa điểm trại nuôi có thể giảm đáng kể tác động về mặt môi trường của các hoá chất dùng trong nuôi trồng thuỷ sản.

Khi được sử dụng, ngoài những tác dụng mong muốn, các hoá chất còn gây ra nhiều tác hại ảnh hưởng xấu đến môi trường và con người. Cụ thể là chúng bị tồn lưu trong môi trường thuỷ sinh, sự tích tụ các dư lượng thuốc kháng khuẩn trong các chất lắng đọng có tiềm năng ức chế hoạt tính của vi khuẩn và giảm mức độ phân rã của các chất hữu cơ. Các hoá chất có thể gây độc và để lại dư lượng cả ở trong các sinh vật không phải là đối tượng nuôi, ví dụ như khu hệ động vật không xương sống trong môi trường. Các thuốc còn gây ra sự kích thích kháng thuốc trong động vật nuôi, làm giảm tác dụng của nhiều loại thuốc. Ðặc biệt, hiệu ứng có thể có của một số hoá chất dùng trong nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là thuốc trừ sâu (ví dụ các phốtphát hữu cơ) và một số thuốc trị bệnh đối với sức khoẻ của những người làm việc ở trại nuôi trồng thuỷ sản là vấn đề đáng quan tâm. Các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn về an toàn và sức khoẻ sẽ làm giảm nhẹ các rủi ro có liên quan và điều quan trọng là các chủ trại nuôi và những người làm việc ở trại nuôi phải tuân thủ các biện pháp phòng ngừa này. Dư lượng trong thực phẩm hải sản có thể gây ra các rủi ro tiềm tàng cho người tiêu dùng qua việc tăng mẫn cảm với các dư lượng thuốc hoặc sự xuất hiệu của hệ vi khuẩn đường ruột kháng lại các chất kháng khuẩn.

Hiện nay, hầu hết các nước đều không có các dữ liệu về số lượng các hoá chất được dùng trong NTTS ở nước mình. Các nhà sản xuất hoá chất không tiết lộ thông tin này và trong nhiều trường hợp họ cũng không biết được cuối cùng thì các sản phẩm của họ được sử dụng đến mức nào. Chúng ta cũng thiếu các dữ liệu hiện trường giúp cho việc định lượng rủi ro, chẳng hạn như nồng độ các chất thải hoá học, tính chất và mức độ phản ứng sinh học ở các vùng nước có sử dụng hóa chất.

Các biện pháp lựa chọn để thay thế hoá chất trong nuôi trồng Thuỷ sản

Cách làm tốt nhất để giảm hiệu quả bất lợi của các hoá chất dùng trong nuôi trồng thuỷ sản đơn giản là chỉ cần bớt sử dụng các hoá chất này. Tuy nhiên, việc bớt sử dụng không dễ dàng do người nuôi phải đối phó với hàng loạt các vấn đề về ô nhiễm và bệnh dịch, vì vậy hiện nay người ta đã áp dụng một số các biện pháp nhằm giảm thiểu hoặc thay thế việc sử dụng hoá chất. Cụ thể là các vấn đề sau:

Các hệ thống tái tuần hoàn nước

Các hệ thống tái tuần hoàn được phát triển ở nhiều nơi chủ yếu để loại bỏ các tác nhân gây bệnh virút (ví dụ virút đầu vàng và virút đốm trắng) trong các hệ thống nuôi. Chúng cũng có hiệu quả trong việc giảm nước thải ra môi trường. Một chương trình tiêu biểu bao gồm việc sử dụng các ao lắng đọng và chứa nước, trị bệnh bằng hoá chất, bằng liệu pháp sinh học, và sục khí. Các hệ thống phức tạp hơn có thể bao gồm lọc sinh học, tia cực tím, ôzôn hoá, lọc, kết bông, tập trung và thu gom bùn đặc. Còn có nhiều môđun khác để xử lý nước, được chuyển hoá từ các nhà máy xử lý nước thải, hiện đang được đánh giá để sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản. Trong bối cảnh có sử dụng hoá chất, các hệ thống tái tuần hoàn tỏ ra có nhiều lợi thế. Thứ nhất, lượng nước thải đi vào các thuỷ vực lân cận giảm đi đáng kể. Thứ hai, các hệ thống khép kín này giúp người NTTS ngăn ngừa các chất độc hại (ví dụ các tác nhân gây bệnh, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ). Thứ ba, các hệ thống tái tuần hoàn có thể được dùng để tăng cường việc diệt vi khuẩn (ví dụ việc sử dụng cách ôzôn hoá), gia tăng mức độ quang phân của thuốc kháng sinh (ví dụ việc sử dụng ánh sáng cực tím) và giúp loại bỏ các chất hữu cơ lơ lửng là những chất có thể chứa các tác nhân gây bệnh hay dư lượng hoá chất (tập trung và thu gom bùn đặc, lọc).

Cách trị bệnh sinh học

Công nghệ này bao hàm việc bổ sung vi khuẩn và enzym vào ao nuôi tôm để khoáng hoá chất hữu cơ. Hầu hết các công thức trị bệnh sinh học xuất phát trừ các nước ôn đới và được xây dựng để xử lý nước thải. Các thí nghiệm tiến hành ở Thái Lan cho thấy rằng hầu hết các tác nhân trị bệnh sinh học không có hiệu quả có lợi đối với chất lượng nước và sự sinh trưởng của tôm. Mặc dù các tác nhân này đắt tiền và hiệu quả của chúng chưa được chứng minh nhưng chúng đã được sử dụng thường xuyên. Ðiều này cần phải có những nghiên cứu kỹ hơn để giúp những người nuôi tôm trong nỗ lực quản lý môi trường ao.

Hỗ trợ tính năng sinh học

Hỗ trợ tính năng sinh học dựa trên nguyên lý loại trừ có cạnh tranh và bao hàm việc sử dụng vi khuẩn sống hoặc men trong khẩu phần ăn hoặc trong nước nuôi để đảm bảo rằng ruột của các loài nuôi có được trong quần thể ban đầu của các vi sinh vật có ích nhằm làm cho quá trình tiêu hoá được tốt hơn. Cách tiếp cận này đang được tích cực nghiên cứu nhưng công việc mới đang ở giai đoạn đầu. Ðã có những kết quả ban đầu về sự cạnh tranh thành công giữa các dòng Vibrio độc hại và các dòng Vibrio không độc hại. Việc tạo ra quần thể các dòng vi khuẩn mong muốn có thể giúp con giống vượt qua được tính dễ bị tấn công bởi các tác nhân gây bệnh sau khi chuyển từ trại giống ra ngoài (trong đó hệ vi thực vật thay đổi rất lớn do việc sử dụng dài hạn các thuốc kháng khuẩn), hoặc sau khi sử dụng hệ thống tái tuần hoàn "sạch" về mặt vi khuẩn như được nhắc ở trên.

Chất kích thích miễn dịch

Một số nghiên cứu cho thấy có sự sinh trưởng, tỷ lệ sống và sức kháng bệnh tốt hơn (thông qua hoạt lực được tăng cường của các tế bào bạch huyết cầu) của cá hồi, cá trê phi và tôm he Nhật Bản, tôm sú sau khi sử dụng các chất tăng cường miễn dịch gồm cả glucan và peptidoglycan. Cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ các chế độ trị bệnh tối ưu, định rõ đặc điểm hệ miễn dịch của tôm và thiết lập các phương pháp sử dụng các chất này một cách thực tiễn và hiệu quả.

Dùng vắcxin ngừa bệnh

Ðã xuất hiện sự quan tâm đáng kể đến việc phát triển các loại vắcxin như một công cụ phòng bệnh và tăng cường sức khoẻ của các loài được nuôi. Không giống với các hoá chất trị bệch, vắcxin không để lại dư lượng trong thịt của cá được phòng ngừa, trừ phi sử dụng các tá dược có dầu. Tuy nhiên hiện vẫn chưa phát triển được các loại vắcxin hữu hiệu đối với nhiều loại bệnh hệ trọng trong nuôi trồng thuỷ sản vùng nhiệt đới. Ðặc biệt, chúng ta vẫn chưa hiểu rõ được hệ thống miễn dịch của tôm.

Thuần hoá

Việc dựa vào đàn giống bố mẹ đã được thuần hoá, chứ không phải là đàn giống hoang dã, có khả năng giúp giảm nhu cầu sử dụng các hoá chất trị bệnh. Sinh sản chọn lọc để tăng sức kháng bệnh là việc làm phổ biến trong nông nghiệp và cũng cần được áp dụng trong NTTS. Sự thuần hoá cũng có thể góp phần vào việc sử dụng các đàn giống không có tác nhân gây bệnh đặc trưng (SPF) và có thể kháng tác nhân gây bệnh đặc trưng (SPR). Song, thành công của các công nghệ SPF và SPR phụ thuộc nhiều vào công tác quản lý và môi trường ương nuôi. Do vậy, không nên coi việc phát triển các công nghệ này như một vị thuốc trị bách bệnh để giải quyết tất cả các vấn đề trong sản xuất.

Thuốc trị bệnh thay thế

Hiện vẫn đang có xu hướng tìm ra các loại dược thảo để trị bệnh cho thuỷ sản nuôi một cách an toàn nhằm thay thế các hoá chất và thuốc kháng sinh. Ví dụ như người nuôi trồng thuỷ sản ở Trung Quốc đã sử dụng thảo dược để trị bệnh thối mang do vi khuẩn và bệnh nhiễm trùng máu ở cá. Tuy nhiên, nhiều loại thảo dược được sử dụng nhưng người ta vẫn chưa hiểu được các thành phần hoạt tính của chúng.

Kết luận

Hiện nay các nhà chức trách của chính phủ, cộng đồng các nhà khoa học, ngành nuôi trồng thuỷ sản và ngành dược phẩm đều phải có trách nhiệm trong việc đảm bảo cho việc sử dụng hoá chất phù hợp với việc bảo vệ chất lượng môi trường và sức khoẻ con người. Ðặc biệt là cần có các cơ chế và thi hành nghiêm chỉnh các cơ chế này đ Sức sống của ngành nuôi trồng thuỷ sản hiện nay phụ thuộc vào việc sử dụng các hoá chất. Trong khi ai cũng biết rằng cần phải giảm thiểu lượng hoá chất ược sử dụng trong NTTS thì việc sử dụng hoá chất hiện nay lại mang tính chất không thể thiếu. Vì vậy, cần phải nhậnthức rõ ràng các liệu pháp hoá học và các loại thuốc, hoá chất đang sử dụng hiện nay đều đem lại các hiệu quả và mối nguy khác nhau. Nếu được tiến hành đúng cách thì việc sử dụng hầu hết các hoá chất trong NTTS có thể được coi là hoàn toàn có lợi mà không có hậu quả môi trường bất lợi hoặc các rủi ro gia tăng đối với sức khoẻ của những người nuôi trồng thuỷ sản. ối với việc đăng ký và kiểm soát các hoá chất dùng trong nuôi trồng thuỷ sản để có thể bảo vệ được môi trường và sức khoẻ con người, từ đó đảm bảo được sự tăng trưởng bền vững của nuôi trồng thủy sản.


Top