Thứ 6, 10/05/2013 18:22:36 GMT+7

Phương pháp ương cá bột thành cá giống

Đánh giá bài viết

(Thủy sản Việt Nam) - Cá bột cần được thả vào ao ương trong vòng 24 giờ sau khi lấy nước vào, để cho những địch hại của cá bột (giáp xác chân chèo, nòng nọc, bọ gạo, bắp cày…) chưa kịp phát triển.

Chuẩn bị ao ương

Tùy thuộc vào diện tích có sẵn của nông hộ, tốt nhất từ 500 - 1.000m2. Ao sâu 1 - 1,5m, đáy phẳng hơi nghiêng về phía cống. Ao phải chủ động cấp thoát nước khi cần, mặt ao thoáng, bờ ao chắc chắn không có cây rậm.

Trước khi thả cá ương phải sên vét bùn đáy ao, không nên để lớp bùn đáy quá dày. Sửa dọn bờ bọng cho chắc chắn, lấp các lỗ mọi, hang hốc quanh ao. Rào lưới xung quanh ao để ngăn ngừa địch hại của cá lọt vào ao ương. Bón vôi khắp ao, liều lượng 10 - 15 kg/100m2, để diệt một số vi khuẩn gây bệnh cho cá và cải tạo nền đáy. Nếu có điều kiện nên đào rãnh xung quanh ao và bón vôi trên bờ ao để tránh chất bẩn hay phèn bị rửa trôi xuống ao khi trời mưa. Phơi đáy ao 3 - 5 ngày (vùng phèn không nên phơi đáy ao).

Đối với các ao không có điều kiện tháo cạn nước hoặc muốn diệt hết cá tạp, cá dữ còn trong lớp bùn đáy, dùng rễ dây thuốc cá ngâm một đêm và đập kỹ vắt lấy nước pha loãng tạt đều khắp ao (1kg rễ cho 100m3 nước). Nên thuốc cá vào buổi trưa, vì lúc này nước được nung nóng, cá dễ bị nhiễm độc hơn. Có thể dùng chế phẩm dạng bột có chứa Rotenon được đóng gói sẵn để diệt cá tạp. Lượng dùng theo chỉ dẫn trên bao bì.

Lấy nước vào ao: Nước lấy vào ao ương phải được lọc thật kỹ qua lưới mịn, có thể thêm trấu vào túi lưới để không cho cá tạp, cá dữ và các sinh vật khác vào ao ương ăn hại cá và cạnh tranh thức ăn của cá. Kiểm tra pH nước khoảng 6,5 - 8,5 là có thể thả cá.

 

Cách thả cá bột

Cá bột cần được thả vào ao ương trong vòng 24 giờ sau khi lấy nước vào, để cho những địch hại của cá bột (giáp xác chân chèo, nòng nọc, bọ gạo, bắp cày…) chưa kịp phát triển. Sau đó, thức ăn dư thừa của cá bột (bột đậu, cám…) sẽ cung cấp thêm dinh dưỡng giúp tảo phát triển gây màu cho ao. Trường hợp sau khi lấy nước vào hơn 2 ngày vẫn chưa thả cá bột thì nên tháo cạn nước, cải tạo lại từ đầu. Thả cá bột xuống ao với mật độ khoảng 300 - 500 con/m2. Thả cá lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

Để tránh xây xát cho cá, nên dùng lưới có kích thước mắt nhỏ - Ảnh: Trần Huy

Trước khi thả, nên ngâm túi cá trong nước khoảng 10 - 15 phút để tránh cá bị sốc nhiệt, sau đó từ từ thả ra ngoài ao. Nếu cá bột chứa trong bao nylon: Thả bao cá xuống ao 10 - 15 phút cho cân bằng nhiệt độ bên trong và bên ngoài bao, sau đó mở miệng bao cho cá ra từ từ. Nếu cá bột chứa trong dụng cụ hở (thau, thùng), thêm từ từ nước ngoài ao vào dụng cụ chứa cá vài lần cho cá quen với nước ao mới, sau 10 - 15 phút chuyển thùng xuống ao, từ từ nghiêng thùng cho cá ra ngoài.

 

Thức ăn

Trong 10 ngày đầu: cho cá ăn lòng đỏ trứng và bột đậu nành. Khẩu phần cho 100.000 cá bột/ngày gồm: 5 lòng đỏ trứng + 600g bột đậu nành. Cách cho ăn: Lòng đỏ trứng luộc chín, bóp nhuyễn, hòa tan trong nước cùng bột đậu nành. Tạt đều thức ăn khắp ao. Mỗi ngày cho ăn 3 lần: 7 giờ , 11 giờ, 17 giờ.

Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 20: Cho cá ăn bột cá, cám và bột đậu nành. Khẩu phần cho 100.000 cá/ngày gồm: 300g đậu nành + 300g cám + 300g bột cá.  Cách cho ăn: Trộn đều 3 loại thức ăn trên sau đó rải đều trên mặt ao. Ngày cho ăn 3 lần.

Từ ngày thứ 21 trở đi giảm bột đậu nành, chỉ cho ăn bột cá và cám, trộn cám với bột cá với tỷ lệ bằng nhau cho cá ăn ngày 2 - 3 lần, lượng thức ăn chiếm khoảng 15 - 20% trọng lượng cá nuôi. Cho ăn như vậy đến khi cá đạt kích cỡ giống khoảng 300 - 500 con/kg.

Lưu ý: Thức ăn nên trộn thêm Vitamin C liều lượng 30 - 40 mg/kg thức ăn. Sau khoảng 15 - 20 ngày, có thể cho cá ăn bằng thức ăn viên công nghiệp loại viên nhỏ mảnh có hàm lượng đạm trên 30%.

 

Chăm sóc quản lý ao ương

Trong quá trình ương hạn chế thay nước, nhưng khi thấy nước ao bẩn hoặc có điều kiện thì nên thay 30% nước để kích thích hoạt động bắt mồi của cá. Hằng ngày, trước khi cho ăn phải vệ sinh sàng ăn và kiểm tra lượng thức ăn còn lại để tăng giảm hợp lý, tránh tình trạng dư thừa làm thối nước hoặc thiếu thức ăn cá sẽ sát hại lẫn nhau. Đảm bảo đủ số lượng và chất lượng thức ăn giúp cá mau lớn, đạt tỷ lệ sống cao.

 

Thu hoạch

Sau khi ương 45 - 60 ngày, cá đạt kích cỡ 300 - 700 con/kg tùy loại cá thì thu hoạch. Trước khi thu hoạch 1 tuần, hằng ngày phải luyện cá bằng cách giảm bớt lượng thức ăn (chỉ còn 1/3 - 1/2 so với bình thường) hay cho cá nhịn đói và làm đục nước ao bằng cách dùng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ kéo cá để tránh cá bị xây xát, kéo lưới dồn cá lại một góc ao trong 10 - 15 phút lúc 9 - 10 giờ sáng, làm liên tục 2 - 4 ngày và nhốt trong vèo trước khi xuất bán.

Trong quá trình thu hoạch, các thao tác phải thật nhanh và nhẹ nhàng, tránh làm cá mệt, nhằm hạn chế tỷ lệ hao hụt khi vận chuyển.

Nguyễn Thị Phương Dung

Trung tâm Khuyến nông Tiền Giang

"Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá rô phi

Cá rô phi được nhập vào nước ta từ những năm 60 của thế kỷ trước. Với nhiều ưu điểm, cá rô phi nhanh chóng được phát triển và nuôi ở nhiều địa phương, trở thành nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và đem lại thu nhập cho người dân ở cả vùng nước lợ và mặn.

Nhằm mục đích quảng bá hoạt động các sản phẩm sạch và cung cấp thông tin cho người nuôi cá, Hội Nghề cá Việt Nam đã chủ trì và chỉ đạo biên tập cuốn sách "Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá rô phi đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm". Sách giới thiệu đến người đọc hiện trạng và xu hướng phát triển cá rô phi. Bên cạnh đó, là những kỹ thuật liên quan đến đặc điểm sinh học của cá rô phi vằn; kỹ thuật sản xuất cá rô phi giống; xử lý đơn tính bằng hormone; kỹ thuật nuôi cá thương phẩm...

Sách do Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành.      

Tuấn Tú

Email
Họ tên
Nội dung

Logo Thương hiệu thủy sản

Seajoy Group: Tầm nhìn xa, thành công lớn

Dịch bệnh EMS làm thị trường tôm Thái Lan, Mexico suy yếu, đó là "cơ hội vàng" cho tôm Honduras. Seajoy Group - một trong những công ty nuôi và chế biến tôm lớn nhất Mỹ La tinh có những bước bứt phá ngoạn mục. Nhưng để có được thành công, Seajoy hiểu rằng trước tiên cần phải có trách nhiệm cao với môi trường và xã hội.